Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành kèm Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT là bộ thước đo năng lực trong nghề, gồm năm tiêu chuẩn và mười lăm tiêu chí: phẩm chất nhà giáo; phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; xây dựng môi trường giáo dục; quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng; ngoại ngữ, công nghệ thông tin và khả năng nghệ thuật. Mỗi tiêu chí được đánh giá ở mức đạt, khá hoặc tốt, hoặc chưa đạt; giáo viên tự đánh giá hằng năm, sau đó cơ sở giáo dục đánh giá.
Nếu trình độ chuẩn trả lời câu "ai được vào nghề", thì chuẩn nghề nghiệp trả lời câu "làm nghề tốt trông như thế nào". Văn bản viết cho giáo viên và người quản lý, nhưng đọc kỹ thì đó cũng là tấm bản đồ rất tốt cho phụ huynh: nó liệt kê đúng những việc mà một cô giáo mầm non được kỳ vọng làm, từ cách lập kế hoạch tới cách trao đổi với gia đình. Bài này diễn giải từng tiêu chuẩn bằng những gì có thể nhìn thấy ở lớp học.
Chuẩn nghề nghiệp khác trình độ chuẩn ở đâu
Trình độ chuẩn đo cái người đó mang theo khi bước vào nghề: một tấm bằng sư phạm. Chuẩn nghề nghiệp đo cái người đó làm được trong nghề, và được đo lại mỗi năm. Hai giáo viên cùng tốt nghiệp một trường, cùng năm, sau năm năm có thể ở hai mức chuẩn nghề nghiệp rất khác nhau, tuỳ người đó học tiếp ra sao, được hỗ trợ thế nào.
Thông tư 26/2018 thay cho quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non cũ ban hành năm 2008. Thay đổi đáng kể nhất là cách nhìn: bản mới mô tả các mức theo hướng phát triển, mức sau là mức trước cộng thêm khả năng tự cải tiến và hỗ trợ đồng nghiệp. Mức tốt không chỉ là làm đúng, mà là làm đúng, điều chỉnh được theo trẻ, và giúp được người khác cùng làm.
Chuẩn nghề nghiệp có ba công dụng chính trong một trường. Giáo viên dùng để tự soi mình và lập kế hoạch học tiếp. Nhà trường dùng để đánh giá, xếp kế hoạch bồi dưỡng, phân công người kèm cặp. Cơ quan quản lý dùng để có số liệu chung về chất lượng đội ngũ. Với chức danh nghề nghiệp ở hệ công lập, theo Thông tư 01/2021/TT-BGDĐT, mức chuẩn nghề nghiệp còn gắn với điều kiện xét hạng.
Năm tiêu chuẩn và mười lăm tiêu chí, diễn giải ngắn
Tên tiêu chí dưới đây là diễn giải bám theo văn bản; cần trích nguyên văn thì đối chiếu Thông tư 26/2018. Cột cuối là cách phụ huynh có thể nhận ra tiêu chí đó qua những gì thấy được:
| Tiêu chuẩn | Tiêu chí | Nhìn thấy ở lớp qua |
|---|---|---|
| 1. Phẩm chất nhà giáo | Đạo đức nhà giáo; phong cách làm việc | Thái độ với trẻ, sự đúng giờ, cách giữ lời hứa với gia đình |
| 2. Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ | Phát triển chuyên môn bản thân; lập kế hoạch; nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ trẻ; giáo dục phát triển toàn diện; quan sát và đánh giá trẻ; quản lý nhóm, lớp | Kế hoạch tuần dán ở lớp, giờ ăn giờ ngủ được tổ chức chu đáo, nhận xét về con cụ thể chứ không chung chung |
| 3. Xây dựng môi trường giáo dục | Môi trường an toàn, lành mạnh, thân thiện; thực hiện quyền dân chủ trong nhà trường | Góc chơi gọn và đổi theo chủ đề, đồ dùng vừa tầm trẻ, không khí lớp không căng thẳng |
| 4. Quan hệ nhà trường, gia đình, cộng đồng | Phối hợp với cha mẹ hoặc người giám hộ; phối hợp với cộng đồng | Thông tin về con đến đều, cô chủ động báo khi có chuyện, có kênh trao đổi rõ ràng |
| 5. Ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, công nghệ thông tin, nghệ thuật | Sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc; ứng dụng công nghệ thông tin; thể hiện khả năng nghệ thuật | Cô hát, kể chuyện, làm đồ chơi, dùng thiết bị hợp lý và đúng lúc |
Tiêu chuẩn thứ hai có nhiều tiêu chí nhất, sáu trên mười lăm, phản ánh đúng thực tế: phần lớn công việc của giáo viên mầm non là chuyên môn hằng ngày, từ lên kế hoạch tới chăm một đứa trẻ bị ốm giữa buổi.
Ba mức đạt nghĩa là gì trên thực tế
Mức đạt. Giáo viên thực hiện đúng yêu cầu của tiêu chí: lập được kế hoạch theo chương trình, tổ chức được hoạt động, chăm sóc trẻ đúng quy định, trao đổi được với phụ huynh. Đây là mức của một người làm nghề vững, không phải mức "trung bình yếu" như cách hiểu thông thường về chữ đạt.
Mức khá. Ngoài làm đúng, giáo viên còn chủ động điều chỉnh: thay đổi kế hoạch khi thấy trẻ không hứng thú, tìm cách riêng cho một trẻ gặp khó, đề xuất cải tiến môi trường lớp. Đây là mức của người biết vì sao mình làm, không chỉ làm theo mẫu.
Mức tốt. Ngoài làm đúng và tự điều chỉnh, giáo viên còn chia sẻ, hỗ trợ đồng nghiệp làm tốt tiêu chí đó, ví dụ dạy mẫu một chuyên đề, góp ý cho giáo viên mới, chia sẻ cách tổ chức một góc chơi. Mức tốt mang tính cộng đồng: giỏi một mình chưa đủ.
Chưa đạt. Khi một tiêu chí không đạt yêu cầu tối thiểu. Kết quả này thường dẫn tới kế hoạch bồi dưỡng riêng và theo dõi sát hơn ở năm sau. Theo cách xếp loại chung của văn bản, kết quả của từng tiêu chí được tổng hợp lại thành mức chung cho cả chuẩn.
Quy trình đánh giá diễn ra thế nào trong một năm học
Chu kỳ đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp là hằng năm, vào cuối năm học. Một vòng thường gồm các bước sau:
- Giáo viên tự đánh giá. Mỗi cô đối chiếu việc mình làm trong năm với từng tiêu chí, tự xếp mức và ghi minh chứng: kế hoạch đã soạn, hồ sơ theo dõi trẻ, biên bản dự giờ, sản phẩm chuyên đề, ghi nhận của đồng nghiệp.
- Ý kiến của đồng nghiệp trong tổ chuyên môn. Tổ xem xét phần tự đánh giá, góp ý khi thấy mức tự xếp cao hoặc thấp hơn minh chứng. Bước này cũng là lúc chia sẻ kinh nghiệm giữa các cô.
- Người đứng đầu cơ sở giáo dục đánh giá. Hiệu trưởng căn cứ tự đánh giá, ý kiến của tổ, kết quả dự giờ, kiểm tra trong năm và các thông tin khác, kể cả phản hồi của phụ huynh nếu trường có thu thập, để kết luận mức của từng giáo viên.
- Thông báo kết quả và lập kế hoạch bồi dưỡng. Kết quả được trao đổi với từng giáo viên. Tiêu chí còn yếu trở thành nội dung bồi dưỡng của năm sau; người đạt mức tốt có thể được giao kèm cặp đồng nghiệp.
- Tổng hợp báo cáo. Trường tổng hợp tỉ lệ giáo viên theo từng mức, báo cáo cơ quan quản lý và đưa vào thông tin công khai về đội ngũ.
Điểm cần hiểu: đây là đánh giá để phát triển, không phải đánh giá để trừng phạt. Một đội ngũ mà ai cũng tự xếp mức tốt cho mọi tiêu chí, năm nào cũng như năm nào, thường là dấu hiệu quy trình đang làm cho xong.
Đọc kỹ ba tiêu chí phụ huynh hay chạm tới nhất
Quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ. Tiêu chí này yêu cầu giáo viên dùng nhiều cách quan sát, ghi lại, đối chiếu với mục tiêu của chương trình, rồi điều chỉnh kế hoạch theo kết quả đó. Phụ huynh nhận ra tiêu chí này qua lời nhận xét về con: cụ thể, có ví dụ, có hướng tiếp theo, ví dụ "tuần này con tự xếp được tháp sáu khối và kể lại cho bạn cách làm", thay vì "con ngoan, học tốt".
Phối hợp với cha mẹ hoặc người giám hộ. Tiêu chí này không chỉ là báo tin. Nó yêu cầu giáo viên chia sẻ thông tin về trẻ, hướng dẫn gia đình cách đồng hành với chương trình, lắng nghe và phản hồi ý kiến của phụ huynh. Một cô đạt tiêu chí này biết hỏi lại gia đình về thói quen ngủ của trẻ trước khi kết luận trẻ khó ngủ trưa.
Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện. An toàn ở đây gồm cả an toàn thân thể và an toàn cảm xúc. Lớp học nơi trẻ dám nói "con không thích", dám xin giúp đỡ, không bị doạ nạt, là lớp mà tiêu chí này được thực hiện. Đồ dùng sắc nhọn được cất đúng chỗ, sàn khô ráo, cửa có chốt an toàn là phần thấy được bằng mắt.
Những hiểu lầm hay gặp về chuẩn nghề nghiệp
Hiểu lầm: chuẩn nghề nghiệp là bảng chấm điểm giáo viên. Thực tế văn bản không cho điểm số, chỉ xếp mức theo từng tiêu chí và dựa trên minh chứng. Mục đích ghi rõ là để giáo viên tự đánh giá, xây dựng kế hoạch rèn luyện và để nhà trường có căn cứ bồi dưỡng. Coi nó như bảng điểm dễ dẫn tới chạy theo hồ sơ cho đẹp thay vì làm tốt trong lớp.
Hiểu lầm: mức tốt là dành cho người có thâm niên. Thâm niên giúp tích luỹ kinh nghiệm, nhưng mức tốt đòi hỏi khả năng tự cải tiến và hỗ trợ đồng nghiệp ở từng tiêu chí, không tính theo số năm. Một giáo viên trẻ có thể đạt mức tốt ở tiêu chí ứng dụng công nghệ thông tin trong khi vẫn ở mức đạt ở tiêu chí quản lý lớp.
Hiểu lầm: giáo viên đạt chuẩn là không cần học thêm. Chuẩn mô tả mức hiện tại trong một năm học. Mỗi vòng đánh giá kết thúc bằng kế hoạch bồi dưỡng cho năm sau, nên chuẩn vận hành như một vòng lặp học tiếp chứ không phải tấm vé một lần.
Hiểu lầm: hồ sơ đầy đủ là đủ. Minh chứng cần có, nhưng minh chứng phải phản ánh việc thật trong lớp. Người đánh giá có kinh nghiệm thường dựa nhiều vào dự giờ, quan sát trực tiếp và trao đổi với trẻ, với phụ huynh, chứ không chỉ đọc sổ sách.
Phụ huynh dùng chuẩn nghề nghiệp vào việc gì
Phụ huynh không đánh giá giáo viên theo chuẩn, đó là việc của nhà trường. Nhưng biết chuẩn giúp phụ huynh có từ ngữ chung để trao đổi. Thay vì nói "cô dạy chưa tốt", phụ huynh nêu cụ thể "con chưa được nghe nhận xét riêng về việc ăn uống trong ba tuần nay", tức là chạm đúng tiêu chí quan sát và phối hợp với gia đình. Lời góp ý cụ thể dễ được tiếp nhận và dễ sửa hơn nhiều.
Chuẩn cũng giúp đặt kỳ vọng hợp lý. Một giáo viên mới ra trường thường ở mức đạt với nhiều tiêu chí và cần thời gian để lên mức khá, đó là bình thường. Phụ huynh gặp cô mới không nên vội kết luận từ vài tuần đầu, mà nên xem trường có người kèm cặp cô đó không.
Khi tìm hiểu một trường, có thể hỏi: trường đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ra sao, có dùng ý kiến phụ huynh không, tỉ lệ giáo viên ở mức khá và tốt khoảng bao nhiêu, kết quả đánh giá dẫn tới những hoạt động bồi dưỡng nào. Câu trả lời không cần số đẹp, chỉ cần thật và cho thấy quy trình đang sống.
Câu hỏi thường gặp
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non có áp dụng cho trường tư thục không?
Thông tư 26/2018 áp dụng cho giáo viên mầm non trong các cơ sở giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, gồm cả trường ngoài công lập. Riêng phần gắn chuẩn với chức danh nghề nghiệp, xét hạng, lương là chuyện của hệ công lập.
Kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp của từng cô có được công khai cho phụ huynh không?
Kết quả của từng người là thông tin nhân sự, thường không công khai đích danh. Thông tin công khai của trường thường ở dạng tổng hợp, ví dụ bao nhiêu giáo viên đạt từng mức. Phụ huynh có thể hỏi con số tổng hợp đó.
Giáo viên mới ra trường thường ở mức nào?
Không có quy định riêng, nhưng thực tế người mới thường ở mức đạt ở phần lớn tiêu chí, vì mức khá và tốt đòi hỏi kinh nghiệm tự điều chỉnh và hỗ trợ đồng nghiệp. Điều đáng hỏi là trường có người kèm và kế hoạch giúp cô mới lên mức tiếp theo không.
Ý kiến của phụ huynh có được dùng khi đánh giá giáo viên không?
Văn bản cho phép người đứng đầu cơ sở giáo dục dùng nhiều nguồn thông tin khi đánh giá. Nhiều trường có khảo sát phụ huynh định kỳ và dùng nó như một minh chứng. Phụ huynh có thể hỏi trường mình có làm việc này không và làm thế nào.
Chuẩn nghề nghiệp có giống với quy tắc ứng xử của giáo viên không?
Không. Chuẩn nghề nghiệp mô tả năng lực cần có và các mức phát triển. Quy tắc ứng xử, theo Thông tư 06/2019, quy định cách cư xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và những điều không được làm. Hai văn bản bổ sung cho nhau, tiêu chí đạo đức nhà giáo là chỗ chúng gặp nhau.
Giáo viên tiếng Anh người nước ngoài có bị đánh giá theo chuẩn này không?
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non viết cho người giữ vị trí giáo viên mầm non. Giáo viên ngoại ngữ thường được trường đánh giá theo yêu cầu riêng của vị trí và hợp đồng. Trường làm kỹ sẽ có bộ tiêu chí riêng cho nhóm này, phụ huynh có thể hỏi.