Chương trình giáo dục mầm non hiện hành vẫn là chương trình ban hành kèm Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT, nhưng đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT và Thông tư 51/2020/TT-BGDĐT. Khi đọc hay trích dẫn, nên dùng văn bản hợp nhất mới nhất do Bộ công bố (bản hợp nhất năm 2021 gom cả ba văn bản), vì đọc riêng Thông tư 17 sẽ gặp nhiều câu chữ đã bị thay.
Cả hai lần sửa đều giữ nguyên khung lớn: hai phần nhà trẻ và mẫu giáo, bốn lĩnh vực ở nhà trẻ, năm lĩnh vực ở mẫu giáo. Lần sửa năm 2016 thường được tóm tắt là chạm nhiều vào phần nuôi dưỡng, chăm sóc; lần sửa năm 2020 gắn với việc trao quyền chủ động cho nhà trường, nới cách tổ chức hoạt động và viết lại phần đánh giá trẻ. Bài này đi qua từng mốc để phụ huynh và giáo viên biết đọc văn bản nào, vì sao.
Dòng thời gian của chương trình
Các mốc dưới đây là những văn bản có thể kiểm trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật. Ngày hiệu lực và nội dung chi tiết nên đối chiếu nguyên văn:
- Năm 2009 — Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT. Ban hành Chương trình giáo dục mầm non, thay cho các chương trình riêng lẻ trước đó cho nhà trẻ và mẫu giáo. Đây là lần đầu có một chương trình thống nhất từ 3 tháng đến 6 tuổi, viết theo lĩnh vực phát triển và có kết quả mong đợi theo độ tuổi.
- Năm 2010 — Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT. Ban hành Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi. Đây không phải văn bản sửa chương trình, nhưng đi cùng chương trình ở năm mẫu giáo cuối, gồm bốn lĩnh vực, 28 chuẩn và 120 chỉ số.
- Năm 2016 — Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình. Sau đó Bộ công bố văn bản hợp nhất năm 2017.
- Năm 2020 — Thông tư 51/2020/TT-BGDĐT. Sửa đổi, bổ sung tiếp một số nội dung. Cùng năm, Điều lệ trường mầm non mới được ban hành kèm Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT.
- Năm 2021 — văn bản hợp nhất. Bộ công bố văn bản hợp nhất chương trình, gom bản gốc với hai lần sửa. Đây là bản nên mở khi cần đọc toàn văn.
- Những năm gần đây — chương trình mới. Bộ có kế hoạch xây dựng và thí điểm một chương trình giáo dục mầm non mới. Khi chưa có văn bản áp dụng đại trà, chương trình theo bản hợp nhất vẫn là căn cứ.
Một lưu ý về cách gọi: trong hồ sơ của trường hay trong lời tư vấn, cụm "chương trình Thông tư 17" vẫn được dùng như tên quen. Gọi vậy không sai, nhưng nội dung đang áp dụng là nội dung đã sửa.
Thông tư 17/2009: lần đầu có một chương trình liền mạch
Trước năm 2009, nhà trẻ và mẫu giáo dùng các chương trình riêng, và cách nghĩ theo "môn" khá đậm: làm quen với văn học, làm quen với toán, tạo hình, âm nhạc, thể dục. Thông tư 17 đưa ra một chương trình thống nhất, viết theo lĩnh vực phát triển của trẻ và nối liền từ 3 tháng đến 6 tuổi. Tên các hoạt động học quen thuộc vẫn còn được dùng trong kế hoạch, nhưng chúng được đặt dưới lĩnh vực chứ không đứng như môn riêng. Thay vì hỏi "hôm nay dạy môn gì", chương trình hỏi "trẻ đang phát triển ở mặt nào và cần trải nghiệm gì".
Thông tư 17 cũng đưa ra hai ý mà đến nay vẫn là xương sống: hoạt động chủ đạo thay đổi theo tuổi (giao lưu cảm xúc ở trẻ rất nhỏ, hoạt động với đồ vật ở tuổi nhà trẻ, chơi ở tuổi mẫu giáo) và giáo dục tích hợp theo chủ đề, nghĩa là một chủ đề như "gia đình" hay "nước" có thể chạm cùng lúc tới ngôn ngữ, nhận thức, thẩm mỹ, vận động.
Một phê bình hay gặp trong giai đoạn đầu là cách hiểu cứng nhắc: nhiều nơi biến chủ đề thành lịch dày đặc, biến kết quả mong đợi thành danh sách kiểm tra, hồ sơ giấy tờ chiếm nhiều thời gian hơn thời gian ngồi với trẻ. Hai lần sửa sau phần lớn nhằm vào những chỗ đó.
Thông tư 28/2016: sửa phần chăm sóc và tổ chức hoạt động
Trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên, lần sửa năm 2016 thường được tóm tắt là lần chạm nhiều vào phần nuôi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ (nhu cầu dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt, an toàn), cùng một số nội dung về tổ chức hoạt động và môi trường giáo dục. Cách tóm tắt nào cũng chỉ là bản đọc lại; muốn biết đúng điều khoản nào được thay, cần mở chính Thông tư 28 và dò từng mục được nhắc tên.
Sau lần sửa này, Bộ công bố văn bản hợp nhất năm 2017. Nhiều tài liệu bồi dưỡng và sách hướng dẫn in giai đoạn 2017–2020 dựa trên bản đó, nên vẫn hữu ích để xem cách làm, nhưng phần nào đã bị lần sửa năm 2020 thay thì phải theo bản mới.
Với phụ huynh, ý nghĩa thực tế của lần sửa năm 2016 nằm ở chỗ các yêu cầu về an toàn và chăm sóc không còn là "khuyến nghị" mà là một phần của chương trình. Khi trao đổi với trường về chuyện ăn, ngủ, vệ sinh hay phòng tai nạn, đó là phần nhà trường phải thực hiện theo khung, không phải dịch vụ cộng thêm.
Thông tư 51/2020: trao quyền chủ động và đổi cách đánh giá
Lần sửa năm 2020 đi cùng tinh thần của Luật Giáo dục 2019 và Điều lệ trường mầm non mới: tăng quyền tự chủ của nhà trường, giảm hình thức. Có ba nhóm thay đổi mà giáo viên nhắc nhiều nhất.
Thứ nhất, nhà trường được chủ động phát triển chương trình giáo dục của trường trên cơ sở chương trình quốc gia, phù hợp với điều kiện địa phương, văn hoá vùng miền và đặc điểm trẻ. Thứ hai, cách tổ chức hoạt động được nới để giáo viên linh hoạt hơn về chủ đề, thời lượng và hình thức, thay vì bám một lịch khung. Thứ ba, phần đánh giá được viết lại: vẫn giữ đánh giá hằng ngày để điều chỉnh hoạt động, còn đánh giá định kỳ được gọi chung là đánh giá theo giai đoạn, trường tự chọn mốc phù hợp với kế hoạch của mình, và kết quả dùng để điều chỉnh kế hoạch chứ không để xếp loại trẻ.
Những ý trên là cách hiểu phổ biến trong tài liệu hướng dẫn và bồi dưỡng giáo viên sau năm 2020. Câu chữ chính xác của từng điều khoản nên đọc trực tiếp trong Thông tư 51 và bản hợp nhất năm 2021, vì đây là văn bản pháp quy và mỗi chữ có thể ảnh hưởng tới cách thanh tra, kiểm tra đánh giá nhà trường.
Nên mở văn bản nào cho việc nào
Cùng một chương trình nhưng mỗi văn bản có giá trị tra cứu khác nhau. Bảng dưới giúp chọn đúng bản:
| Bạn cần | Mở văn bản | Vì sao |
|---|---|---|
| Đọc toàn văn chương trình đang áp dụng | Văn bản hợp nhất mới nhất | Đã gom phần gốc và các lần sửa, đọc liền mạch |
| Biết chữ nào là chữ mới sửa năm 2020 | Thông tư 51/2020/TT-BGDĐT | Chỉ chứa các điều khoản được sửa, bổ sung |
| Biết vì sao một yêu cầu chăm sóc, an toàn có trong chương trình | Thông tư 28/2016/TT-BGDĐT | Lần sửa tập trung vào phần này |
| Hiểu tư tưởng gốc của chương trình | Thông tư 17/2009/TT-BGDĐT | Văn bản khai sinh, có phần giải thích cấu trúc |
| Xem các chỉ số của trẻ năm tuổi | Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT | Bộ chuẩn đi kèm năm mẫu giáo cuối |
| Xem độ tuổi, nhóm lớp, quyền của phụ huynh | Điều lệ trường mầm non (Thông tư 52/2020) | Chương trình không quy định phần tổ chức trường |
Văn bản hợp nhất có giá trị tra cứu, còn giá trị pháp lý nằm ở các thông tư được hợp nhất. Khi có tranh chấp hay cần trích chính xác trong hồ sơ, người làm nghề vẫn dẫn số hiệu thông tư gốc và thông tư sửa đổi.
Đọc văn bản sửa đổi sao cho khỏi nhầm
Văn bản sửa đổi thường viết dạng "sửa đổi, bổ sung khoản… mục… phần… như sau", rồi chép đoạn mới. Đọc riêng nó rất khó hình dung, vì không thấy đoạn cũ. Cách đỡ nhầm nhất là mở song song hai cửa sổ: bản hợp nhất ở một bên, thông tư sửa đổi ở bên kia, dò từng điều khoản được nhắc tới.
Thứ hai, chú ý chữ "bãi bỏ". Một số cụm từ, một số mục bị bãi bỏ mà không thay bằng gì; trong bản hợp nhất những chỗ đó thường có chú thích. Những tài liệu cũ in trước năm 2021, kể cả sách hướng dẫn thực hiện chương trình theo độ tuổi, có thể vẫn chứa nội dung đã bỏ, nên dùng để tham khảo cách làm chứ không làm căn cứ.
Thứ ba, đừng lẫn chương trình với văn bản hướng dẫn nhiệm vụ năm học. Mỗi năm, Bộ và sở có văn bản hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục mầm non với trọng tâm riêng. Những văn bản đó định hướng việc làm trong năm học, không sửa chương trình.
Khi chương trình được sửa, trẻ đang học có bị ảnh hưởng không
Với trẻ, một lần sửa chương trình hầu như không tạo ra cú đổi đột ngột nào trong ngày ở lớp. Lý do là các lần sửa không đổi mục tiêu hay lĩnh vực, mà chạm vào cách diễn đạt, cách tổ chức, cách đánh giá. Thứ thay đổi trước tiên là giấy tờ và việc của giáo viên: mẫu kế hoạch, mẫu ghi chép đánh giá, cách trường xây chương trình riêng. Phải mất một, hai năm học để những thay đổi đó thấm xuống thành thói quen trong lớp.
Ở lần sửa năm 2020, phụ huynh có thể nhận ra một vài dấu hiệu sau một thời gian: giáo viên nói nhiều hơn về quan sát từng trẻ thay vì đánh giá cả lớp theo một mẫu; chủ đề có thể dài ngắn khác nhau, có khi kéo theo một dự án nhỏ do trẻ gợi ý; hồ sơ của trẻ có thêm sản phẩm, ảnh chụp hoạt động, ghi chú của cô thay vì chỉ có phiếu đánh dấu.
Nếu sau một lần sửa mà lớp của con vẫn y như cũ, điều đó chưa hẳn là trường làm sai, vì nhiều trường vốn đã làm theo hướng mà văn bản sửa đổi chỉ hợp thức hoá. Ngược lại, một trường liên tục thay lịch, đổi tên chương trình mỗi năm học cũng chưa chắc đã đổi mới thật. Câu hỏi đáng hỏi luôn là trẻ được quan sát và hỗ trợ ra sao, chứ không phải văn bản ban hành năm nào.
Câu hỏi thường gặp
Trường còn ghi "thực hiện chương trình theo Thông tư 17" có phải đang dùng bản cũ không?
Chưa chắc. Thông tư 17 là tên gọi quen của chương trình, và chương trình đó vẫn đang có hiệu lực sau khi được sửa đổi. Điều nên hỏi là trường lập kế hoạch theo bản hợp nhất nào, có cập nhật phần đánh giá và phần phát triển chương trình nhà trường theo lần sửa năm 2020 hay không.
Văn bản hợp nhất có giá trị như một thông tư không?
Văn bản hợp nhất dùng để tra cứu, giúp đọc liền mạch phần gốc và phần sửa. Giá trị pháp lý vẫn thuộc về các thông tư được hợp nhất. Trong hồ sơ chính thức, người ta thường dẫn số hiệu thông tư gốc kèm thông tư sửa đổi, còn khi đọc để hiểu thì bản hợp nhất là tiện nhất.
Lần sửa năm 2020 có bỏ chủ đề trong chương trình không?
Không bỏ giáo dục theo chủ đề, nhưng cho phép linh hoạt hơn về cách chọn chủ đề, độ dài và cách triển khai, kể cả tổ chức theo dự án hay theo hứng thú của trẻ khi phù hợp. Chủ đề là công cụ tích hợp nội dung, không phải khung bắt buộc phải kéo đủ số tuần.
Bộ chuẩn phát triển trẻ năm tuổi có phải là một phần của chương trình?
Bộ chuẩn ban hành riêng bằng Thông tư 23/2010, không nằm trong văn bản chương trình. Hai văn bản đi cùng nhau ở năm mẫu giáo cuối: chương trình nói mục tiêu và nội dung, bộ chuẩn đưa các chỉ số để giáo viên theo dõi và hỗ trợ trẻ chuẩn bị vào lớp 1, không dùng để xếp hạng.
Có cần chờ chương trình mới rồi mới chọn trường không?
Không cần. Chương trình mới khi được ban hành sẽ có lộ trình áp dụng, và trường nào cũng phải chuyển theo. Điều quyết định trải nghiệm của trẻ là cách trường thực hiện chương trình hằng ngày, đội ngũ và môi trường lớp, hơn là năm ban hành của văn bản.
Giáo viên mới vào nghề nên đọc văn bản theo thứ tự nào?
Nên đọc bản hợp nhất để nắm toàn khung, rồi đọc Thông tư 51 để biết phần mới, sau đó đọc Điều lệ trường mầm non và Bộ chuẩn trẻ năm tuổi nếu dạy lớp lớn. Tài liệu hướng dẫn theo độ tuổi dùng để tham khảo cách làm, nhớ kiểm năm in để tránh nội dung đã bị sửa.