Kết quả mong đợi là phần của chương trình giáo dục mầm non mô tả những gì trẻ có thể làm, nói, thể hiện khi kết thúc một độ tuổi, viết bằng hành vi quan sát được trong từng lĩnh vực phát triển. Nó giúp giáo viên biết nên tạo cơ hội gì cho trẻ và nhìn vào đâu để biết trẻ đang tiến lên, chứ không phải bộ câu hỏi để chấm đậu, rớt hay xếp hạng trẻ.
Chương trình viết kết quả mong đợi theo các nhóm tuổi ở phần nhà trẻ và theo từng năm 3–4, 4–5, 5–6 tuổi ở phần mẫu giáo. Mỗi dòng thường bắt đầu bằng một động từ: trẻ đi được, trẻ nói được, trẻ nhận biết, trẻ thể hiện. Đọc đúng phần này là cách thực tế nhất để phụ huynh hiểu con đang ở đâu so với khung chung mà không rơi vào so sánh con với bạn.
Kết quả mong đợi được viết như thế nào
Mỗi lĩnh vực của chương trình có một bảng nội dung đi kèm bảng kết quả mong đợi. Nội dung nói trẻ được tiếp xúc với điều gì; kết quả mong đợi nói nếu trẻ có đủ cơ hội tiếp xúc, ta có thể kỳ vọng thấy gì. Chẳng hạn, nội dung ở lĩnh vực ngôn ngữ có nghe kể chuyện, đọc thơ, trò chuyện; kết quả mong đợi tương ứng là trẻ nghe hiểu và trả lời được câu hỏi đơn giản, đọc được bài thơ ngắn, kể lại được một đoạn chuyện quen.
Cách viết bằng động từ hành vi có lý do: một mục tiêu như "trẻ yêu thích văn học" rất đẹp nhưng khó biết đã đạt chưa, còn "trẻ chủ động cầm sách xem tranh, đề nghị người lớn đọc" thì cô quan sát được. Văn bản vẫn có những dòng cảm xúc, thái độ như "thích", "mạnh dạn", "có thói quen", vì đây là phần quan trọng của tuổi mầm non, nhưng chúng cũng được mô tả qua hành vi.
Ở năm mẫu giáo cuối còn có Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi ban hành riêng bằng Thông tư 23/2010/TT-BGDĐT, với bốn lĩnh vực, 28 chuẩn và 120 chỉ số. Bộ chuẩn chi tiết hơn và được dùng làm công cụ hỗ trợ theo dõi trẻ năm tuổi; nó không thay kết quả mong đợi của chương trình mà đi song song.
Một lát cắt qua ba năm mẫu giáo
Để thấy kết quả mong đợi tăng dần qua các năm, bảng dưới diễn đạt lại theo tinh thần chương trình ở một mảng nhỏ là kỹ năng tự phục vụ và vận động tinh. Câu chữ là diễn giải để minh hoạ, không phải trích nguyên văn:
| Độ tuổi | Hướng biểu hiện ở mảng tự phục vụ | Hướng biểu hiện ở mảng vận động tinh |
|---|---|---|
| 3–4 tuổi | Tự xúc ăn, tự uống nước, đi vệ sinh có cô nhắc | Cầm bút bằng nhiều ngón, xếp chồng vài khối, xé giấy |
| 4–5 tuổi | Tự rửa tay đúng cách, tự cởi và mặc áo đơn giản | Cắt theo đường thẳng, cài cởi cúc, xâu hạt |
| 5–6 tuổi | Tự lo phần lớn việc vệ sinh cá nhân, biết sắp xếp đồ dùng | Cầm bút đúng tư thế, tô vẽ trong khuôn, buộc dây đơn giản |
Điều đáng chú ý là một năm học không phải một bậc thang có mép rõ. Trẻ 4 tuổi rưỡi có thể đã làm tốt vài việc của cột 5–6 tuổi và chưa làm được vài việc của cột 4–5 tuổi. Muốn biết câu chữ chính xác của từng dòng, phụ huynh nên mở bảng kết quả mong đợi trong bản hợp nhất của chương trình.
Đọc kết quả mong đợi cho đúng
Đọc như điểm đến cuối độ tuổi, không như yêu cầu của đầu năm. Dòng "trẻ 4–5 tuổi làm được…" mô tả biểu hiện ở cuối năm học đó, sau một năm có cơ hội trải nghiệm. Áp nó cho trẻ vừa tròn bốn tuổi trong tháng đầu là đọc sai thời điểm.
Đọc theo cả cụm, không bắt bẻ từng dòng. Trẻ chưa làm được một dòng đơn lẻ hầu như không nói lên điều gì. Điều có ý nghĩa là xu hướng chung trong một lĩnh vực và sự tiến bộ qua thời gian.
Đọc cùng với nội dung giáo dục. Một kết quả mong đợi chỉ công bằng khi trẻ đã được tiếp xúc với nội dung tương ứng. Trẻ chưa từng được cầm kéo thì chưa thể kỳ vọng cắt theo đường thẳng.
Đọc để tạo cơ hội, không để kiểm tra. Câu hỏi đúng khi thấy con chưa làm được một việc là "ở nhà và ở lớp con đã có đủ dịp thử chưa", chứ không phải "sao con chưa biết".
Đọc trong bối cảnh khác biệt cá nhân. Trẻ sinh đầu năm và cuối năm cùng lớp có thể chênh nhau gần một năm tuổi thật. Chương trình đề cao tôn trọng sự khác biệt, nên giáo viên đặt kỳ vọng cho từng trẻ chứ không cho "trẻ trung bình".
Những cách dùng sai biến kết quả mong đợi thành bảng điểm
Khi bị dùng sai, kết quả mong đợi sinh ra đúng thứ chương trình muốn tránh: áp lực thành tích ở trẻ nhỏ.
- In thành phiếu đánh dấu đạt, chưa đạt rồi tính phần trăm cho từng trẻ. Con số phần trăm trông khách quan nhưng gộp những thứ không cộng được với nhau, như tự xúc ăn và kể lại chuyện.
- Xếp hạng trẻ trong lớp theo số dòng đã đạt. Chương trình không có khái niệm xếp hạng trẻ mầm non, và việc so sánh công khai làm tổn thương trẻ lẫn phụ huynh.
- Tổ chức buổi "kiểm tra" riêng để trẻ thể hiện từng dòng. Trẻ nhỏ thể hiện kém hơn nhiều trong tình huống bị kiểm tra; quan sát trong hoạt động tự nhiên mới cho bức tranh đúng.
- Dạy luyện từng dòng cho kịp. Luyện cho trẻ đếm thuộc lòng đến mười để "đạt" dòng đếm trong khi trẻ chưa hiểu số lượng là bỏ mất ý nghĩa của mục tiêu.
- Dùng làm căn cứ từ chối nhận trẻ. Kết quả mong đợi là mốc để hỗ trợ trẻ trong trường, không phải điều kiện đầu vào.
Những điều trên không có nghĩa là không ghi chép gì. Ghi chép quan sát là phần của đánh giá sự phát triển, có chuyên mục riêng trên trang này; điểm khác là ghi chép phục vụ việc điều chỉnh hỗ trợ trẻ, không phục vụ xếp loại.
Kết quả mong đợi và các mốc phát triển trong y khoa
Phụ huynh có khi đọc thêm các bảng mốc phát triển từ nguồn y khoa, như danh sách mốc theo tháng tuổi của các hội nhi khoa hay cơ quan y tế công cộng. Hai loại bảng có mục đích khác nhau. Bảng mốc y khoa thường được viết để phát hiện sớm dấu hiệu cần theo dõi, nên nhiều mốc là những việc phần lớn trẻ đã làm được ở độ tuổi đó; nếu trẻ chưa đạt, đó là gợi ý đi khám, không phải chẩn đoán. Ví dụ, khi Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ cùng Viện Nhi khoa Hoa Kỳ sửa bộ mốc phát triển năm 2022, họ chọn những mốc mà khoảng 75% trẻ trở lên đã đạt ở độ tuổi đó, chính để việc chưa đạt trở thành tín hiệu đáng hỏi bác sĩ.
Kết quả mong đợi của chương trình giáo dục được viết để định hướng việc học, nên có những dòng mang tính phấn đấu, cần trẻ được trải nghiệm đủ mới đạt. Vì vậy một trẻ chưa đạt một dòng kết quả mong đợi chưa hẳn đáng lo, trong khi chưa đạt nhiều mốc y khoa của độ tuổi thì nên trao đổi với bác sĩ nhi khoa.
Trường mầm non không chẩn đoán. Khi giáo viên thấy nhiều biểu hiện chậm kéo dài, việc đúng là trao đổi với phụ huynh, ghi lại quan sát cụ thể và gợi ý gặp chuyên gia; phần sàng lọc và can thiệp chuyên sâu thuộc về các đơn vị chuyên môn.
Kết quả mong đợi ở phần nhà trẻ đọc khác một chút
Ở phần nhà trẻ, khoảng cách giữa các mốc ngắn hơn và tốc độ thay đổi của trẻ nhanh hơn nhiều. Trong vòng một năm, một em bé có thể đi từ bò sang đi vững, từ bập bẹ sang nói câu hai, ba từ. Vì vậy kết quả mong đợi ở nhà trẻ được chia theo nhóm tháng tuổi, và phần lớn các dòng gắn với vận động, chăm sóc, giao tiếp với người lớn.
Với trẻ dưới ba tuổi, nhiều biểu hiện chỉ xuất hiện khi trẻ thấy an toàn. Một bé vừa đi học tuần đầu có thể không nói lời nào ở lớp dù ở nhà nói nhiều, hoặc thôi tự xúc ăn dù ở nhà đã quen. Giáo viên nhà trẻ thường đợi qua giai đoạn làm quen mới bắt đầu đối chiếu kết quả mong đợi, và cần nghe thêm từ phụ huynh về những gì trẻ làm ở nhà.
Một điểm nữa: kết quả mong đợi của nhà trẻ đặt nặng phần cảm xúc như trẻ biểu lộ cảm xúc, thích được âu yếm, phản ứng với giọng nói quen. Những dòng này nghe mềm, nhưng chúng là nền cho mọi thứ sau đó. Một trẻ gắn bó an toàn với cô sẽ dám thử, dám nói, dám chơi với bạn hơn. Phụ huynh nên hỏi về phần này nhiều như hỏi con đã biết nói bao nhiêu từ.
Cách nhà trường dùng kết quả mong đợi khi lập kế hoạch
Ở Global Star School, theo trang học vụ, mỗi lớp được tổ chức theo độ tuổi khớp với mốc của chương trình, nên kết quả mong đợi của độ tuổi đó là điểm xuất phát khi lớp chọn mục tiêu cho năm học và cho từng chủ đề. Các hoạt động riêng của hệ, kể cả hoạt động song ngữ, được xếp vào để phục vụ những kết quả mong đợi đã chọn, chứ không mở thêm một danh sách "chỉ tiêu" song song.
Trong một năm học, kết quả mong đợi được dùng ít nhất ở ba thời điểm. Đầu năm, giáo viên quan sát vài tuần để biết từng trẻ đang ở đâu, từ đó chọn mục tiêu vừa sức cho lớp. Trong năm, mỗi chủ đề chọn ra một số kết quả mong đợi làm trọng tâm, và hoạt động được thiết kế để tạo cơ hội cho chúng. Cuối giai đoạn, giáo viên nhìn lại những gì đã quan sát được để quyết định giai đoạn sau cần lặp lại, mở rộng hay chuyển hướng ở đâu. Không thời điểm nào trong số đó cần đến điểm số.
Khi trao đổi với phụ huynh, giáo viên nói về kết quả mong đợi bằng ví dụ cụ thể từ ngày của trẻ: con đã tự cất dép vào kệ, con bắt đầu kể lại chuyện bằng câu dài hơn, con còn ngại tham gia trò chơi đông người. Đó là kiểu trao đổi chương trình hướng tới, và cũng là kiểu thông tin phụ huynh dùng được ngay ở nhà.
Câu hỏi thường gặp
Kết quả mong đợi khác gì mục tiêu?
Mục tiêu nói đích chung của một độ tuổi hay một lĩnh vực, thường viết khái quát. Kết quả mong đợi cụ thể hoá mục tiêu đó thành biểu hiện quan sát được ở cuối độ tuổi. Một mục tiêu có thể ứng với nhiều dòng kết quả mong đợi khác nhau, giúp giáo viên biết nhìn vào đâu.
Con chưa đạt vài dòng kết quả mong đợi cuối năm có phải học lại không?
Không. Mầm non không có lưu ban theo kết quả mong đợi. Trẻ lên lớp theo độ tuổi, giáo viên lớp sau nhận thông tin về những mặt trẻ cần hỗ trợ thêm để tiếp tục tạo cơ hội. Nếu nhiều mặt cùng chậm rõ và kéo dài, nên trao đổi để cân nhắc đánh giá chuyên sâu.
Phụ huynh có nên tự kiểm tra con theo bảng kết quả mong đợi ở nhà không?
Đọc để biết mà tạo cơ hội thì nên, còn bày bài kiểm tra thì không. Trẻ nhỏ thể hiện tốt nhất trong sinh hoạt tự nhiên như giờ ăn, giờ chơi, lúc đi chợ. Ghi lại vài quan sát cụ thể rồi trao đổi với cô chủ nhiệm hữu ích hơn nhiều so với một buổi hỏi đáp.
Bộ chuẩn trẻ năm tuổi và kết quả mong đợi 5–6 tuổi có mâu thuẫn không?
Không mâu thuẫn, nhưng khác cách trình bày. Bộ chuẩn chia thành bốn lĩnh vực với 28 chuẩn và 120 chỉ số, chi tiết hơn; chương trình mẫu giáo chia năm lĩnh vực. Giáo viên lớp năm tuổi thường dùng cả hai, lấy chương trình làm khung kế hoạch và bộ chuẩn làm công cụ theo dõi.
Trường quốc tế có dùng kết quả mong đợi của Bộ không?
Trường được cấp phép theo hệ thống giáo dục Việt Nam và thực hiện chương trình quốc gia thì dùng. Trường có thể ghép thêm khung quốc tế như mục tiêu học tập sớm của một số nước, nhưng phần chương trình quốc gia vẫn phải có đủ kết quả mong đợi theo độ tuổi.